Chuyển sang phiên bản Carbon thấp

Biến ý định giảm phát thải carbon của ngành xây dựng thành hiện thực.

7 Tháng một, 2026
bởi Dominic Shales

Các kế hoạch tiết kiệm chi phí và giảm lượng khí thải carbon trong xây dựng thường trông rất thuyết phục và khả thi trên lý thuyết. Tuy nhiên, việc thực hiện chúng trên thực tế lại khó khăn hơn nhiều. Ngày càng nhiều chủ đầu tư và nhà thầu cho rằng khoảng cách nằm ở khâu thực thi, cụ thể là liệu các dự án có thể theo dõi, xác minh và hành động dựa trên những gì thực sự đang xảy ra khi vật liệu được vận chuyển đến công trường hay không.

Đó chính là vấn đề mà QFlow đặt ra để giải quyết. Được thành lập vào năm 2018 bởi hai kỹ sư xây dựng Brittany Harris và Jade Cohen, công ty tập trung vào việc thu thập dữ liệu vật liệu, chất thải và chi phí theo thời gian thực trực tiếp từ các công trường xây dựng, thay thế các phiếu giấy, báo giá và bảng tính bằng các bản ghi kỹ thuật số đã được xác minh.

Mức độ rủi ro rất cao. Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc, toàn bộ môi trường xây dựng chiếm gần 40% lượng khí thải carbon dioxide toàn cầu. Khoảng 11% đến từ lượng carbon tích hợp trong vật liệu và quy trình xây dựng. Với nhu cầu xây dựng mới và cải tạo ngày càng tăng, việc giảm phát thải carbon ngày càng phụ thuộc vào việc đảm bảo các dự án đạt được hiệu quả như thiết kế ban đầu.

Xem toàn bộ cuộc phỏng vấn của chúng tôi với Brittany Harris từ QFlow tại đây.

Nơi mà các kế hoạch đổ bể tại hiện trường

Harris lập luận rằng những thất bại lớn nhất của ngành xây dựng hiếm khi là do cố ý. Chúng mang tính cấu trúc. Bà nói: “Chúng ta đang gặp phải những vấn đề lớn với vật liệu được đưa đến công trường, hoặc là chúng không đúng loại, hoặc là số lượng không phù hợp, hoặc là không được phê duyệt theo thiết kế hoặc nhà cung cấp. Hiện tại, ngành xây dựng đang giải quyết vấn đề này một cách rất tùy tiện.”

Việc thiếu minh bạch đó dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Harris ước tính rằng khoảng 30% công việc làm lại trong xây dựng là do quản lý vật liệu không hiệu quả. Trong một ví dụ bà mô tả, một nhà thầu phụ đã thay thế một đường ống có kích thước phù hợp với thiết kế nhưng lại thiếu tiêu chuẩn chống cháy cần thiết. Nó được lắp đặt bên dưới một nhà ga xe lửa, bị che phủ và chỉ được phát hiện sau đó. Bà nói: “Hậu quả là tiến độ bị chậm khoảng hai tuần, nhưng cũng gây ra chi phí và lãng phí vật liệu khổng lồ. Một việc nhỏ như thay thế một đường ống có thể gây ra những hậu quả dây chuyền khủng khiếp, cuối cùng khiến ngành công nghiệp của chúng ta thiệt hại hàng tỷ đô la mỗi năm.” 

Điều khiến vấn đề trở nên mang tính hệ thống là nó đã trở nên bình thường hóa. Harris lưu ý rằng hầu hết các dự án đều đơn giản cho rằng sai sót sẽ xảy ra và tính toán chi phí cho chúng. “Họ có những khoản dự phòng trong ngân sách, thường chiếm khoảng 20% ​​tổng ngân sách dự án,” bà nói. “Họ chỉ nói, 'Tỷ lệ sai sót của chúng ta là 20%.' Và đó là cách ngành công nghiệp này hoạt động. Và điều đó thật điên rồ.”

Brittany Harris (bên phải) và Jade Cohen, đồng sáng lập của QFlow.

Công nghệ như một hệ thống cảnh báo sớm, chứ không phải tự động hóa.

QFlow định vị công nghệ như một công cụ hỗ trợ chứ không phải là sự thay thế cho phán đoán của con người. Nền tảng này cho phép các nhóm tại công trường ghi nhận việc giao hàng chỉ bằng một bức ảnh đơn giản. Dữ liệu đó sau đó được đối chiếu với các thông số kỹ thuật thiết kế, nhà cung cấp và phê duyệt, giúp phát hiện những điểm không phù hợp trước khi chúng dẫn đến việc phải làm lại.

“Công nghệ có thể chỉ ra các rủi ro và nói rằng, 'Bạn đã nhận được đường ống này, nó không phù hợp với thông số kỹ thuật thiết kế, và đây là bằng chứng,'” Harris nói. “Con người vẫn cần đưa ra phán đoán, nhưng công nghệ có thể đánh giá, trong số một nghìn lần giao hàng, đâu là mười lần bạn thực sự cần chú ý.” 

Sự khác biệt đó rất quan trọng trong một lĩnh vực mà nguồn lao động khan hiếm và công tác giám sát bị phân mảnh. Harris đã bác bỏ ý kiến ​​cho rằng kết quả kém chủ yếu là do gian lận. 

“Tôi chắc chắn rằng có một phần nhỏ gian lận đang diễn ra,” cô ấy nói. “Nhưng tôi thực sự nghĩ rằng phần lớn thời gian ngành này đang cố gắng làm tốt nhất có thể với những gì mình có. Chỉ là các kênh phản hồi thông tin chưa đủ hiệu quả.”

Tác động đến lượng khí thải carbon là rất đáng kể. Việc quản lý vật liệu không hiệu quả dẫn đến khai thác, sản xuất và vận chuyển không cần thiết, làm tăng lượng khí thải tích lũy rất lâu trước khi một công trình được đưa vào sử dụng. Bằng cách tạo ra một hồ sơ được xác minh về những gì được sử dụng trong một dự án, dữ liệu của QFlow có thể được đưa trực tiếp vào các đánh giá lượng khí thải carbon trọn vòng đời và các công cụ báo cáo của doanh nghiệp, bao gồm cả những công cụ được sử dụng để định lượng lượng khí thải Scope 3.

Quy định, dữ liệu và sự thay đổi động lực

Việc ban hành quy định đang thúc đẩy nhu cầu về độ chính xác cao hơn. Bà Harris cho biết các quy định mới như Chỉ thị về Báo cáo Bền vững Doanh nghiệp ở châu Âu và Đạo luật An toàn Xây dựng của Anh đang buộc các công ty phải vượt ra ngoài những ước tính. Bà giải thích: “Quy định về báo cáo carbon đã giúp mọi người thực sự tập trung vào việc nhận ra rằng, chúng ta thực sự cần dữ liệu chính xác đằng sau việc này. Quy định mà chúng ta đang thấy thực sự tập trung vào tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và khả năng kết nối các bước trong quy trình.” 

Yếu tố địa lý định hình cuộc thảo luận. Tại châu Âu, báo cáo về tính bền vững ngày càng trở nên phổ biến, dù đôi khi có vẻ miễn cưỡng. Tại Bắc Mỹ, Harris nhận thấy những yêu cầu dữ liệu tương tự đang nổi lên dưới những nhãn mác khác nhau. Bà nói: “Người ta bàn nhiều hơn về khả năng phục hồi, chất lượng và kiểm soát chi phí. Nhưng khi nói đến vật liệu và chất thải, thông tin cần cung cấp hoàn toàn giống nhau.” 

QFlow đã thích ứng phù hợp. Khởi đầu là một công cụ để theo dõi chất thải, nay đã mở rộng thành một nền tảng rộng hơn cho việc kiểm soát chất lượng, quản lý rủi ro chuỗi cung ứng và chi phí. Các sản phẩm mới ra mắt gần đây tập trung vào việc đối chiếu các lô hàng với ý đồ thiết kế ban đầu, khép kín vòng lặp mà Harris gọi là "vòng lặp giữa kế hoạch và thực tế".

Nhìn về phía trước, Harris tin rằng ngành xây dựng cần một sự thay đổi về văn hóa cũng như công nghệ. “Tôi rất mong ngành xây dựng sẽ thoát khỏi sự ám ảnh về kết quả đầu ra và tập trung hơn vào hiệu quả tổng thể,” bà nói. “Nếu chúng ta tập trung vào việc tạo ra những không gian thực sự bền vững, hiệu quả và an toàn, thay vì chỉ đáp ứng các tiêu chí đề ra, chúng ta sẽ đạt được vị thế tốt hơn nhiều.” 

Đối với một ngành công nghiệp chịu trách nhiệm cho một phần lớn lượng khí thải toàn cầu, sự thay đổi đó có thể quyết định liệu các mục tiêu khử carbon có còn là tham vọng hay cuối cùng sẽ trở nên khả thi.